Thành phần
Thuốc Regonat 40mg Natco điều trị ung thư có thành phần:
Công dụng (Chỉ định)
Thuốc Regonat 40mg được chỉ định trong điều trị:
- Ung thư đại tràng hoặc trực tràng (CRC) đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể và đã được điều trị trước đó bằng một số loại thuốc hóa trị nhưng thất bại.
- Ung thư dạ dày, ruột hoặc thực quản hiếm gặp gọi là GIST (khối u mô đệm đường tiêu hóa) không thể điều trị bằng phẫu thuật hoặc đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể và đã được điều trị trước đó bằng một số nhóm thuốc điều trị nhưng thất bại.
- Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) ở những người trước đây đã được điều trị bằng sorafenib nhưng thất bại.
Cách dùng thuốc Regonat 40mg
Thuốc dùng đường uống.
Thuốc phải được kê đơn bởi bác sĩ có kinh nghiệm sử dụng hóa trị liệu điều trị ung thư.
Liều dùng
Liều khuyến cáo là 160mg Regorafenib (4 viên), uống một lần mỗi ngày trong 3 tuần điều trị, sau đó nghỉ điều trị 1 tuần để tạo thành một chu kỳ 4 tuần.
- Tiếp tục điều trị bằng thuốc regonat cho đến khi bệnh tiến triển hoặc độc tính không thể chấp nhận được.
- Dùng thuốc cùng một thời điểm trong ngày để đạt hiệu quả tốt nhất.
Hiệu chỉnh liều
Có thể cần ngừng và/ hoặc giảm liều dựa trên an toàn và khả năng dung nạp của từng cá thể. Hiệu chỉnh liều được áp dụng theo từng bậc 40 mg (một viên). Liều khuyến cáo hàng ngày thấp nhất là 80 mg. Liều dùng hàng ngày tối đa là 160 mg.
Để khuyến cáo hiệu chỉnh liều và các biện pháp áp dụng trong trường hợp có phản ứng da lòng bàn tay- chân (Hand Foot Skin Reaction- HFSR /- Hội chứng tay- chân / hội chứng loạn cảm đỏ lòng bàn tay- bàn chân)
Không sử dụng trong trường hợp sau (Chống chỉ định)
Bệnh nhân quá mẫn với hoạt chất và bất kỳ thành phần tá dược nào trong công thức thuốc.
Tác dụng không mong muốn (Tác dụng phụ)
Tác dụng phụ thường gặp
Các tác dụng phụ Regorafenib phổ biến nhất bao gồm:
- Hội chứng bàn tay - bàn chân (Palmar-Plantar Erythrodysesthesia - PPE): Rất phổ biến, biểu hiện bằng việc da ở lòng bàn tay và lòng bàn chân bị đỏ, sưng, đau, phồng rộp hoặc bong tróc. Mức độ có thể từ nhẹ đến nặng.
- Mệt mỏi/suy nhược: Cảm giác mệt mỏi, thiếu năng lượng dai dẳng.
- Tiêu chảy: Phổ biến và có thể từ nhẹ đến nặng, đôi khi gây mất nước.
- Chán ăn, giảm lượng thức ăn/giảm cân: Ảnh hưởng đến dinh dưỡng và chất lượng cuộc sống.
- Tăng huyết áp: Huyết áp có thể tăng lên, cần được theo dõi và kiểm soát bằng thuốc.
- Thay đổi chức năng gan: Tăng men gan (ALT, AST), Bilirubin. Đây là tác dụng phụ quan trọng cần được theo dõi định kỳ bằng xét nghiệm máu.
- Phát ban: Có thể xuất hiện dưới dạng mụn nước, mụn mủ hoặc ban đỏ trên da.
- Đau bụng, viêm niêm mạc: Viêm niêm mạc miệng, đau họng, v.v.
- Khó phát âm (dysphonia): Giọng nói thay đổi hoặc khàn tiếng.
Tác dụng phụ ít gặp nhưng nghiêm trọng
Đây là những tác dụng phụ Regorafenib ít phổ biến hơn nhưng có thể nghiêm trọng và đe dọa tính mạng, đòi hỏi phải được chăm sóc y tế khẩn cấp:
- Rối loạn chức năng gan nặng: Bao gồm suy gan cấp tính, có thể gây tử vong. Cần theo dõi chức năng gan rất chặt chẽ, đặc biệt trong 2 tháng đầu điều trị.
- Chảy máu: Nguy cơ chảy máu tăng lên, đặc biệt là chảy máu đường tiêu hóa, chảy máu cam nặng hoặc xuất huyết não (có thể nghiêm trọng và đe dọa tính mạng).
- Biến cố tim mạch: Mặc dù hiếm, nhưng có thể xảy ra thiếu máu cục bộ cơ tim/nhồi máu cơ tim (đau ngực, khó thở) hoặc kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ (ảnh hưởng đến nhịp tim).
- Thủng đường tiêu hóa/Lỗ rò: Một biến chứng hiếm gặp nhưng rất nghiêm trọng, cần can thiệp phẫu thuật khẩn cấp.
- Hội chứng bệnh não sau có thể hồi phục (PRES): Một tình trạng thần kinh hiếm gặp với các triệu chứng như đau đầu, co giật, lú lẫn và thay đổi thị lực.
- Phình/tách động mạch: Một tác dụng phụ rất hiếm nhưng nghiêm trọng, có thể đe dọa tính mạng.
Tương tác với các thuốc khác
Chất ức chế / cảm ứng CYP3A4
Số liệu in vitro chỉ ra rằng regorafenib được chuyển hóa bởi cytochrome CYP3A4 và uridine diphosphate glucuronosyltransferase UGT1A9.
Dùng ketoconazole (400 mg trong 18 ngày) một chất ức chế CYP3A4 mạnh, với một liều duy nhất regorafenib (160 mg vào ngày 5) dẫn đến sự gia tăng phơi nhiễm regorafenib trung bình (AUC) khoảng 33%, và giảm sự phơi nhiễm của các chất chuyển hóa có hoạt tính, M-2 (N-oxit) và M-5 (N-oxide và N-desmethyl) trung bình khoảng 90%. Cần tránh sử dụng đồng thời thuốc ức chế mạnh hoạt tính CYP3A4 (ví dụ như clarithromycin, nước ép bưởi, itraconazole, ketoconazole, posaconazole, telithromycin và voriconazole) vì ảnh hưởng của chúng trên sự phơi nhiễm với trạng thái ổn định của regorafenib và các chất chuyển hóa của nó (M-2 và M-5) chưa được nghiên cứu.
Dùng rifampin (600 mg trong 9 ngày), một chất cảm ứng CYP3A4 mạnh, với một liều duy nhất regorafenib (160 mg vào ngày 7) dẫn đến làm giảm AUC của regorafenib trung bình khoảng 50%, tăng 3 đến 4 lần phơi nhiễm trung bình của chất chuyển hóa có hoạt tính M-5, và không thay đổi phơi nhiễm của chất chuyển hóa có hoạt tính M-2. Các chất cảm ứng mạnh hoạt tính CYP3A4 khác (ví dụ như phenytoin, carbamazepine, phenobarbital) cũng có thể làm tăng chuyển hóa regorafenib. Do sự giảm nồng độ trong huyết tương của regorafenib có thể dẫn đến giảm hiệu quả, cần tránh sử dụng các chất gây cảm ứng mạnh CYP3A4, hoặc nên xem xét lựa chọn một thuốc thay thế khi dùng đồng thời, không có hoặc rất ít có khả năng cảm ứng CYP3A4.
Cơ chất UGT1A1 và UGT1A9
Số liệu in vitro cho thấy regorafenib cũng như các chất chuyển hóa hoạt động của nó M-2 ức chế glucuronid hóa trung gian bởi uridine transferases glucuronosyl diphosphate UGT1A1 và UGT1A9, trong khi M-5 chỉ ức chế UGT1A1 ở nồng độ đạt được trong cơ thể ở trạng thái ổn định.
Dùng regorafenib với một khoảng nghỉ dài 5 ngày trước khi dùng irinotecan làm tăng khoảng 44% AUC trung bình của SN-38, một cơ chất của UGT1A1 và là một chất chuyển hóa có hoạt tính của irinotecan. Cũng quan sát thấy có sự gia tăng phơi nhiễm trung bình AUC với irinotecan khoảng 28%. Điều này cho thấy rằng việc sử dụng đồng thời regorafenib có thể làm tăng phơi nhiễm hệ thống với các cơ chất của UGT1A1 và UGT1A9.
Cơ chất BCRP (Breast cancer resistance protein: Protein kháng ung thư vú) và P-glycoprotein
Dữ liệu in vitro cho thấy rằng regorafenib là một chất ức chế -BCRP và P-glycoprotein. Điều trị đồng thời regorafenib có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của cơ chất của BCRP, như methotrexate,hoặc các cơ chất của P-glycoprotein, như digoxin.
Cơ chất chọn lọc của các phân nhóm CYP
Dữ liệu in vitro cho thấy rằng regorafenib là một chất ức chế cạnh tranh của các cytochrome CYP2C8, CYP2C9, CYP2B6 ở nồng độ đạt được in vivo ở trạng thái ổn định (nồng độ đinh trong huyết tương là 8,1 micromolar). Tiềm năng ức chế in vitro đối với CYP3A4 và CYP2C19 ít rõ ràng hơn.
Một nghiên cứu lâm sàng thăm dò cơ chất đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của 14 ngày dùng regorafenib với liều 160 mg trên dược động học các cơ chất của CYP2C8 (rosiglitazone), CYP2C9 (S-warfarin), CYP2C19 (omeprazole) và CYP3A4 (midazolam). Dữ liệu dược động học cho thấy rằng regorafenib có thể được dùng đồng thời với các chất nền CYP2C8, CYP2C9, CYP3A4, và CYP2C19 mà không có tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng (xem thêm phần "Cảnh báo đặc biệt và thận trọng”).
Kháng sinh
Phân tích nồng độ - thời gian cho thấy regorafenib và các chất chuyển hóa của nó có thể trải qua tuần hoàn gan-ruột (xem phần “Các đặc tính dược động học”). Việc sử dụng đồng thời với kháng sinh mà có ảnh hưởng đến thần kinh thực vật đường tiêu hóa có thể gây cản trở cho tuần hoàn gan-ruột của regorafenib và có thể dẫn đến giảm sự phơi nhiễm của regorafenib. Ý nghĩa lâm sàng của những tương tác tiềm tàng này là không rõ, nhưng có thể làm giảm hiệu quả của regorafenib.
Các thuốc gắn acid mật
Regorafenib, M-2 và M-5 có khả năng trải qua tuần hoàn ruột-gan (xem phần 5.2). Các thuốc gắn acid mật như cholestyramin và cholesterol có thể tương tác với regorafenib bằng cách hình thành phức hợp không hòa tan có thể ảnh hưởng đến sự hấp thu (hoặc tái hấp thu), vì vậy dẫn đến khả năng giảm sự phơi nhiễm. Ý nghĩa lâm sàng của những tương tác tiềm tàng này là không rõ, nhưng có thế dẫn đến giảm hiệu quả của regorafenib.
Lưu ý khi sử dụng Regonat 40mg (Cảnh báo và thận trọng)
Trong quá trình điều trị bằng Regorafenib, việc theo dõi bệnh nhân cần được thực hiện chặt chẽ để phát hiện sớm các tác dụng phụ. Chức năng gan (ALT, AST, bilirubin) cần được kiểm tra định kỳ, đặc biệt hàng tuần trong 2 tháng đầu. Huyết áp phải được theo dõi thường xuyên, nhất là trong 6 tuần đầu điều trị. Người bệnh cũng cần chú ý các dấu hiệu chảy máu bất thường, triệu chứng tim mạch như đau ngực, khó thở, và kiểm tra lòng bàn tay, bàn chân để phát hiện sớm hội chứng bàn tay - bàn chân.
Regorafenib có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ở cả nam và nữ. Nếu bạn có ý định sinh con trong tương lai, nên trao đổi với bác sĩ trước khi điều trị để được tư vấn về các phương án bảo tồn khả năng sinh sản, chẳng hạn như trữ đông tinh trùng hoặc trứng.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và cho con bú
Tránh thai
- Phụ nữ có khả năng mang thai phải được thông báo rằng regorafenib có thể gây hại cho thai.
- Phụ nữ khả năng mang thai và nam giới nên đảm bảo sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong quá trình điều trị và kéo dài đến 8 tuần sau khi hoàn tất điều trị.
Phụ nữ có thai
- Không có dữ liệu về việc sử dụng của regorafenib ở phụ nữ mang thai.
- Dựa trên cơ chế tác dụng, regorafenib bị nghi ngờ gây ra tổn hại cho thai khi dùng trong thời gian mang thai.
- Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy có độc tính trên sinh sản (xem dữ liệu "Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng’).
- Không nên sử dụng Regonat trong thời kỳ mang thai, trừ khi rõ ràng là cần thiết và sau khi xem xét cẩn thận những lợi ích cho mẹ và nguy cơ cho thai nhi.
Cho con bú
- Chưa biết liệu regorafenib/ chất chuyển hóa có được bài tiết trong sữa mẹ hay không.
- Ở chuột, regorafenib/ chất chuyển hóa được bài tiết qua sữa.
- Không thể loại trừ nguy cơ cho trẻ bú mẹ, Regorafenib có thể gây hại cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em (xem dữ liệu "Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng”). Phải ngừng cho con bú trong thời gian điều trị với Regonat.
Khả năng sinh sản
- Không có dữ liệu về tác dụng của Regonat trên khả năng sinh sản ở người. Kết quả nghiên cứu trên động vật cho thấy regorafenib có thể làm giảm khả năng sinh sản của động vật đực và cái
Bảo quản
- Bảo quản nơi khô thoáng, tránh ánh nắng trực tiếp và nhiệt độ cao
- Để xa tầm tay trẻ em