Thuốc Pazonib 200mg Herabiopharm điều trị ung thư 30 viên
Thuốc Pazonib 200mg Herabiopharm có thành phần là hoạt chất Pazopanib được chỉ định ở người lớn điều trị đầu tay ung thư biểu mô tế bào thận tiến triển (RCC), điều trị một số phân nhóm chọn lọc của ung thư phần mềm (STS) tiến triển đã dùng hóa trị để điều trị di căn trước đó.
- Thông tin sản phẩm
Thành phần
Thuốc Pazonib 200mg Herabiopharm có thành phần:
- Pazopanib: 200mg
Công dụng (Chỉ định)
Ung thư biểu mô tế bào thận (RCC)
- Pazopanib được chỉ định ở người lớn điều trị đầu tay ung thư biểu mô tế bào thận tiến triển (RCC) và bệnh nhân đã được điều trị bằng cytokine trước đó cho bệnh tiến triển.
Ung thư phần mềm (STS)
- Pazopanib được chỉ định ở người lớn điều trị một số phân nhóm chọn lọc của ung thư phần mềm (STS) tiến triển đã dùng hóa trị để điều trị di căn trước đó hoặc vẫn tiến triển bệnh trong vòng 12 tháng sau điều trị bổ trợ mới.
Hiệu quả và an toàn chỉ được thiết lập trên một số phân nhóm mô học ung thư phần mềm nhất định.
Cách dùng thuốc Pazonib 200mg
Dùng đường uống. Không nên dùng với thức ăn, ít nhất 1 giờ trước hoặc 2 giờ sau khi ăn. Nên uống với nước và không được bẻ hoặc nhai viên nén bao phim.
Chỉ nên bắt đầu điều trị pazopanib bởi các bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm sử dụng thuốc chống ung thư.
Liều dùng
Liều khuyến cáo của pazopanib để điều trị RCC hoặc STS là 800 mg/lần/ngày.
Điều chỉnh liều (giảm hoặc tăng) nên tuân theo mô hình bậc thang với mỗi bậc 200 mg dựa vào mức độ dung nạp của từng cá nhân để hạn chế tác dụng không mong muốn. Liều dùng của pazopanib không được vượt quá 800 mg.
Không sử dụng trong trường hợp sau (Chống chỉ định)
Bệnh nhân mẫn cảm với hoạt chất hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Tác dụng không mong muốn (Tác dụng phụ)
Các tác dụng không mong muốn sau đã được ghi nhận trong quá trình sử dụng Pazonib sau khi phê duyệt. Các tác dụng này bao gồm các báo cáo tự phát cũng như các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng từ các nghiên cứu đang tiến hành, các nghiên cứu dược lý học lâm sàng và các nghiên cứu thăm dò đối với các chỉ định chưa được phê duyệt.
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng
- Không phổ biến: Nhiễm trùng (có hoặc không có giảm bạch cầu trung tính).
Rối loạn máu và hệ bạch huyết
- Hiếm: Huyết khối mao mạch (bao gồm ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối và hội chứng tăng ure máu tán huyết).
Rối loạn hệ thần kinh
- Không phổ biến: Hội chứng tổn thương não phía sau có khả năng hồi phục (xem mục Cảnh báo).
Rối loạn tiêu hóa
- Phổ biến: Đầy hơi.
- Không phổ biến: Viêm tụy.
Rối loạn gan mật
- Phổ biến: Tăng men Gamma-glutamyl transpeptidase.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
- Rất phổ biến: Đau khớp.
- Phổ biến: Co thắt cơ.
Rối loạn mắt
- Không phổ biến: Bong/rách võng mạc.
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất
- Hiếm gặp: Bệnh phổi kẽ/Viêm phổi.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Tương tác với các thuốc khác
Pazopanib có thể tương tác với nhiều loại thuốc khác, điều này rất quan trọng để bác sĩ và bệnh nhân cần lưu ý nhằm tránh các tác dụng phụ hoặc làm giảm hiệu quả điều trị.
Tương tác với các chất ức chế CYP3A4 mạnh
Việc dùng đồng thời Pazopanib với các chất ức chế CYP3A4 mạnh (ví dụ: ketoconazole, ritonavir, clarithromycin, nước bưởi chùm) có thể làm tăng nồng độ Pazopanib trong máu, dẫn đến tăng nguy cơ gặp phải các tác dụng phụ. Bạn cần thông báo cho bác sĩ về tất cả các loại thuốc đang dùng, kể cả thuốc bổ và thảo dược.
Tương tác với các chất cảm ứng CYP3A4 mạnh
Ngược lại, dùng Pazopanib cùng với các chất cảm ứng CYP3A4 mạnh (ví dụ: rifampicin, phenytoin, carbamazepine, St. John's wort) có thể làm giảm nồng độ Pazopanib trong máu, làm giảm hiệu quả điều trị.
Tương tác với các thuốc có pH phụ thuộc hấp thu
Các thuốc làm tăng pH dạ dày (như thuốc kháng axit, thuốc ức chế bơm proton - PPIs, thuốc đối kháng thụ thể H2) có thể làm giảm khả năng hấp thu của Pazopanib. Do đó, cần có khoảng thời gian thích hợp giữa việc dùng Pazopanib và các loại thuốc này.
Tương tác với các thuốc ức chế/cảm ứng P-glycoprotein (P-gp)
Pazopanib là một chất nền và chất ức chế yếu của P-glycoprotein. Do đó, cần thận trọng khi dùng chung với các thuốc là chất nền nhạy cảm hoặc chất ức chế/cảm ứng P-gp.
Các tương tác quan trọng khác
- Warfarin và các thuốc chống đông máu khác: Tăng nguy cơ chảy máu. Cần theo dõi chặt chẽ INR.
- Thuốc kéo dài khoảng QT: Có thể làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim. Cần theo dõi điện tâm đồ (ECG) định kỳ.
- Simvastatin: Tăng nguy cơ tổn thương gan khi dùng đồng thời.
Lưu ý khi sử dụng Pazonib 200mg (Cảnh báo và thận trọng)
Các tác dụng trên gan: Đã có báo cáo về các trường hợp suy gan (bao gồm cả tử vong) khi sử dụng Pazonib. Thận trọng khi dùng Pazonib cho những bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc vừa và cần kiểm soát chặt chẽ. Liều 800mg Pazonib một lần mỗi ngày được khuyến cáo cho bệnh nhân có bất thường nhẹ trong các xét nghiệm huyết thanh đánh giá chức năng gan (hoặc bilirubin bình thường và tăng ALT ở bất kỳ mức độ nào hoặc tăng bilirubin tới 1,5 lần ULN bất kể các giá trị ALT). Liều Pazonib giảm xuống 200mg một lần mỗi ngày được khuyến cáo cho những bệnh nhân suy gan vừa (tăng bilirubin >1,5 đến 3 lần ULN bất kể các giá trị ALT) . Không khuyến cáo dùng Pazonib cho bệnh nhân suy gan nặng (bilirubin toàn phần >3 lần ULN bất kể các giá trị ALT) . Phơi nhiễm với thuốc ở liều 200mg giảm đáng kể trên những bệnh nhân này mặc dù có nhiều thay đổi nhưng các giá trị này không đủ để xem là có tác động trên lâm sàng.
Trong các thử nghiệm lâm sàng với Pazonib, đã quan sát thấy tăng các men transaminase (ALT, aspartat aminotransferase [AST]) và bilirubin trong huyết thanh. Trong phần lớn các trường hợp, đã ghi nhận có tăng riêng lẻ ALT và AST mà không tăng đồng thời phosphatase kiềm hoặc bilirubin. Bệnh nhân trên 60 tuổi có nguy cơ cao tăng ALT gấp 3 lần x ULN.
Bệnh nhân có allel HLA-B*57:01 cũng có thể tăng nguy cơ có ALT tăng liên quan đến Pazonib. Nên theo dõi chức năng gan chặt chẽ ở tất cả bệnh nhân đang sử dụng Pazonib, bất kể kiểu gen và độ tuổi . Sự tăng men transaminase ở các mức độ phần lớn (> 90%) xảy ra trong 18 tuần đầu. Mức độ tăng men transaminase dựa trên tiêu chuẩn thuật ngữ chung về biến cố bất lợi của Viện Ung thư Quốc gia, phiên bản 3 (NCI CTCAE).
Nên theo dõi chặt chẽ các xét nghiệm huyết thanh đánh giá chức năng gan trước khi điều trị với Pazonib, và vào các tuần 3, 5, 7 và 9. Sau đó, theo dõi ở Tháng thứ 3 và Tháng thứ 4, và dựa trên biểu hiện lâm sàng. Cần tiếp tục theo dõi định kỳ sau Tháng thứ 4. Hướng dẫn sau đây được cung cấp cho các bệnh nhân có giá trị ban đầu của bilirubin toàn phần ≤1,5 x giới hạn trên của mức bình thường (ULN) và AST và ALT ≤2 x ULN.
Những bệnh nhân tăng ALT riêng lẻ từ 3 đến 8 lần giới hạn trên của mức bình thường (ULN) có thể tiếp tục dùng Pazonib cùng với việc theo dõi hàng tuần chức năng gan cho đến khi các transaminase trở về Mức 1 (NCI CTCAE) hoặc mức trước điều trị.
Những bệnh nhân có ALT tăng >8 lần ULN cần tạm ngừng Pazonib cho tới khi các transaminase trở về Mức 1 (NCI CTCAE) hoặc mức trước điều trị. Nếu xét thấy những lợi ích tiềm năng của việc sử dụng lại Pazonib nổi trội hơn nguy cơ độc tính trên gan, có thể sử dụng lại Pazonib ở mức liều đã được giảm và tiến hành xét nghiệm huyết thanh đánh giá chức năng gan mỗi tuần trong 8 tuần (xem Liều lượng và Cách dùng). Sau khi sử dụng lại Pazonib, nếu ALT tăng trở lại >3 lần ULN thì phải ngừng hẳn Pazonib.
Nếu ALT tăng >3 lần ULN đồng thời với bilirubin tăng >2 lần ULN, nên ngừng sử dụng Pazonib lâu dài. Nên theo dõi các bệnh nhân cho đến khi các transaminase trở về Mức 1 (NCI CTCAE) hoặc mức trước điều trị. Pazonib là một chất ức chế UGT1A1. Tăng bilirubin huyết nhẹ, không trực tiếp có thể xảy ra ở những bệnh nhân mắc hội chứng Gilbert. Những bệnh nhân chỉ bị tăng bilirubin huyết nhẹ, đã biết hoặc nghi ngờ bị mắc hội chứng Gilbert, và tăng ALT >3 ULN nên được giám sát theo khuyến cáo đối với sự tăng ALT riêng lẻ.
Dùng đồng thời Pazonib và simvastatin làm tăng nguy cơ tăng ALT và nên sử dụng thận trọng và theo dõi chặt chẽ.
Ngoại trừ khuyến cáo các bệnh nhân bị suy gan nhẹ được điều trị bằng Pazonib 800mg một lần/ngày và giảm liều khởi đầu xuống 200mg mỗi ngày cho các bệnh nhân bị suy gan trung bình, không có hướng dẫn điều chỉnh liều nào khác dựa trên các kết quả thử máu đánh giá chức năng gan trong quá trình điều trị đối với các bệnh nhân đã bị suy gan trước đó.
Tăng huyết áp: Trong các nghiên cứu lâm sàng với Pazonib, đã xảy ra các biến cố tăng huyết áp bao gồm các đợt tăng huyết áp mới được chẩn đoán (cơn tăng huyết áp). Cần kiểm soát tốt huyết áp trước khi bắt đầu sử dụng Pazonib. Bệnh nhân nên được theo dõi sớm và chặt chẽ tình trạng tăng huyết áp ngay sau khi bắt đầu điều trị (không quá 1 tuần sau khi bắt đầu dùng Pazonib) và thường xuyên sau đó để đảm bảo kiểm soát được huyết áp. Các mức tăng huyết áp (huyết áp tâm thu ≥150 hoặc huyết áp tâm trương ≥100 mmHg) xuất hiện sớm trong đợt điều trị (xấp xỉ 40% các trường hợp xuất hiện trước Ngày thứ 9 và xấp xỉ 90% các trường hợp xuất hiện trong vòng 18 tuần đầu). Huyết áp cần được theo dõi chặt chẽ và kiểm soát ngay lập tức bằng cách sử dụng liệu pháp phối hợp hạ huyết áp và điều chỉnh liều Pazonib (tạm ngừng hoặc dùng lại với mức liều giảm thấp dựa vào đánh giá trên lâm sàng) . Phải ngừng sử dụng Pazonib nếu có bằng chứng của tăng huyết áp dai dẳng (140/90 mmHg) hoặc nếu tăng huyết áp động mạch nghiêm trọng và dai dẳng mặc dù đã sử dụng liệu pháp chống tăng huyết áp và giảm liều Pazonib.
Hội chứng tổn thương não phía sau có khả năng hồi phục (Posterior reversible encephalopathy syndrome – PRES)/ Hội chứng bệnh lý chất trắng não sau có thể hồi phục (Reversible posterior leukoencephalopathy syndrome – RPLS): PRES/RPLS đã được báo cáo có liên quan đến Pazonib. PRES/RPLS có thể có biểu hiện đau đầu, tăng huyết áp, co giật, ngủ lịm, lú lẫn, mù và các rối loạn thần kinh và thị giác khác và có thể tử vong. Ngừng hẳn Pazonib ở những bệnh nhân có PRES/RPLS.
Bệnh phổi kẽ (ILD)/Viêm phổi: Bệnh phổi kẽ, là bệnh có thể gây tử vong, đã được báo cáo là có liên quan đến Pazonib (xem Tác dụng ngoại ý). Cần theo dõi những bệnh nhân có triệu chứng phổi gợi ý đến bệnh phổi kẽ/viêm phổi. Ngừng sử dụng Pazonib ở những bệnh nhân bị viêm phổi kẽ hoặc viêm phổi tiến triển.
Rối loạn chức năng tim: Trong các thử nghiệm lâm sàng với Pazonib, đã xảy ra các biến cố rối loạn chức năng tim như suy tim sung huyết và giảm phân suất tống máu thất trái (LVEF). Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên về bệnh ung thư biểu mô tế bào thận (RCC), đối chứng Pazonib với sunitinib, ở những người được đo chỉ số LVEF ban đầu và theo dõi, rối loạn chức năng cơ tim đã được quan sát thấy ở 13% (47/362) nhóm đối tượng dùng Pazonib so với 11% (42/369) ở nhóm đối tượng dùng sunitinib. Suy tim sung huyết đã được quan sát thấy trong 0,5% các đối tượng trong mỗi nhóm điều trị. Trong thử nghiệm lâm sàng pha III về ung thư phần mềm (STS), suy tim sung huyết đã được báo cáo ở 3 trong số 240 đối tượng (1%). Trong thử nghiệm này, nhận thấy tỷ lệ giảm phân suất tống máu thất trái ở các đối tượng có tiến hành đo chỉ số này sau khi điều trị là 11% (16/142) trong nhóm Pazonib so với 5% (2/40) trong nhóm giả dược. Có 14/16 đối tượng trong nhóm Pazonib có tăng huyết áp đồng thời có thể làm tăng thêm rối loạn chức năng tim ở bệnh nhân có nguy cơ (ví dụ, bệnh nhân có điều trị anthracyclin trước đó) bằng cách làm tăng hậu gánh tim.
Nên theo dõi huyết áp và kiểm soát ngay bằng cách phối hợp phác đồ điều trị tăng huyết áp và điều chỉnh liều Pazonib (ngừng dùng hoặc bắt đầu lại ở liều thấp hơn dựa theo đánh giá lâm sàng). Bệnh nhân nên được theo dõi cẩn thận các dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng của suy tim sung huyết. Khuyến cáo nên đánh giá LVEF trước khi điều trị và định kì ở bệnh nhân có nguy cơ rối loạn chức năng tim.
Kéo dài khoảng QT và xoắn đỉnh: Trong các nghiên cứu lâm sàng với Pazonib, đã xuất hiện biến cố kéo dài khoảng QT hoặc xoắn đỉnh . Cần sử dụng Pazonib một cách thận trọng trên những bệnh nhân có tiền sử kéo dài khoảng QT, những bệnh nhân dùng các thuốc chống loạn nhịp hoặc các thuốc khác có thể kéo dài khoảng QT, hoặc những bệnh nhân có bệnh tim trước đó. Khi sử dụng Pazonib, cần phải giám sát điện tâm đồ trước điều trị và định kỳ và duy trì nồng độ các chất điện giải (calci, magie, kali) trong khoảng bình thường.
Biến cố huyết khối động mạch: Trong các nghiên cứu lâm sàng với Pazonib, đã quan sát thấy các biến cố nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực, đột quỵ nhồi máu não và cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) . Cũng quan sát thấy các biến cố tử vong. Nên sử dụng thận trọng Pazonib ở những bệnh nhân có nguy cơ cao dễ xảy ra các biến cố huyết khối hoặc những người đã từng xảy ra biến cố trong vòng 6 tháng trước đó. Cần đưa ra các quyết định điều trị dựa vào đánh giá lợi ích/nguy cơ trên từng bệnh nhân.
Biến cố thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch: Trong các nghiên cứu lâm sàng với Pazonib, đã xảy ra các biến cố thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch bao gồm huyết khối tĩnh mạch và thuyên tắc động mạch phổi gây tử vong. Tỉ lệ mắc cao hơn ở các đối tượng STS (5%) so với nhóm đối tượng RCC (2%).
Huyết khối mao mạch: Huyết khối mao mạch (TMA) đã được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng của Pazonib dùng đơn trị liệu, phối hợp với bevacizumab, và phối hợp với topotecan . Ngừng hẳn Pazonib ở bệnh nhân có xuất hiện huyết khối mao mạch. Quan sát thấy có sự đảo ngược tác động của huyết khối mao mạch sau khi ngừng điều trị. Pazonib không được chỉ định dùng phối hợp với các chất khác.
Biến cố xuất huyết: Trong các nghiên cứu lâm sàng với Pazonib, đã ghi nhận các biến cố xuất huyết . Đã có xảy ra các biến cố xuất huyết gây tử vong. Pazonib chưa được nghiên cứu trên những bệnh nhân có tiền sử ho ra máu, xuất huyết não, hoặc có xuất huyết đường tiêu hóa nghiêm trọng về mặt lâm sàng trong 6 tháng trước đó. Phải sử dụng thận trọng Pazonib ở những bệnh nhân có nguy cơ cao xảy ra xuất huyết.
Thủng và rò đường tiêu hóa: Trong các nghiên cứu lâm sàng với Pazonib, đã xuất hiện các biến cố thủng hoặc rò đường tiêu hóa . Biến cố thủng gây tử vong đã xảy ra. Nên sử dụng thận trọng Pazonib ở những bệnh nhân có nguy cơ về thủng hoặc rò đường tiêu hóa.
Lành vết thương: Không có nghiên cứu chính thức về ảnh hưởng của Pazonib trên quá trình lành vết thương. Vì các tác nhân ức chế yếu tố tăng trưởng nội mạc mạch máu (VEGF) có thể làm chậm quá trình lành vết thương, nên phải ngừng điều trị với Pazonib ít nhất 7 ngày trước lịch phẫu thuật. Quyết định dùng lại Pazonib sau phẫu thuật phải dựa trên đánh giá lâm sàng cho thấy quá trình lành vết thương đã ổn định. Phải ngừng Pazonib ở những bệnh nhân có vết thương hở.
Giảm chức năng tuyến giáp: Trong các nghiên cứu lâm sàng với Pazonib, đã xuất hiện biến cố giảm chức năng tuyến giáp . Nên chủ động giám sát các xét nghiệm chức năng tuyến giáp.
Protein niệu: Trong các nghiên cứu lâm sàng với Pazonib, đã ghi nhận các trường hợp protein niệu . Nên tiến hành phân tích nước tiểu trước điều trị và định kỳ trong quá trình điều trị và cần giám sát các bệnh nhân về diễn biến protein niệu trở nên xấu hơn. Phải ngừng Pazonib nếu bệnh nhân tiến triển thành hội chứng thận hư.
Tràn khí màng phổi: Trong các nghiên cứu lâm sàng với Pazonib trong ung thư phần mềm tiến triển, đã xảy ra các biến cố tràn khí màng phổi . Bệnh nhân đang điều trị với Pazonib nên được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu và triệu chứng của tràn khí màng phổi.
Nhiễm trùng: Các ca nhiễm trùng nặng (có hoặc không có giảm bạch cầu trung tính) trong một số trường hợp gây tử vong đã được báo cáo.
Phối hợp với các liệu pháp chống ung thư dùng đường toàn thân khác: Các thử nghiệm lâm sàng sử dụng Pazonib phối hợp với pemetrexed (ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC)) và lapatinib (ung thư cổ tử cung) đã phải kết thúc sớm do mối quan ngại về sự tăng độc tính và/hoặc tử vong, và vẫn chưa thiết lập được liều phối hợp an toàn và hiệu quả với những phác đồ này. Pazonib không được chỉ định dùng phối hợp với các chất khác.
Độc tính trên động vật chưa trưởng thành: Do cơ chế tác dụng của Pazonib có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng và trưởng thành của cơ quan trong quá trình phát triển sớm sau sinh . Không nên sử dụng Pazonib cho bệnh nhi dưới 2 tuổi.
Mang thai: Các nghiên cứu tiền lâm sàng ở động vật đã cho thấy có độc tính sinh sản .
Nếu Pazonib được sử dụng khi đang mang thai, hoặc nếu bệnh nhân có thai khi dùng Pazonib, phải giải thích cho bệnh nhân về các nguy hiểm tiềm tàng đối với thai nhi. Cần khuyên các phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện tránh thai khi được điều trị với Pazonib.
Tương tác: Nên tránh điều trị đồng thời với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4, P-glycoprotein (P-gp) hoặc protein kháng ung thư vú (BCRP) do nguy cơ tăng phơi nhiễm với Pazonib. Nên cân nhắc lựa chọn các thuốc thay thế dùng đồng thời không có hoặc có khả năng ức chế ít nhất CYP3A4, P-gp hoặc BCRP.
Nên tránh dùng đồng thời với các thuốc gây cảm ứng CYP3A4 do nguy cơ giảm phơi nhiễm với Pazonib .
Đã quan sát thấy các trường hợp tăng đường huyết khi dùng đồng thời với ketoconazole.
Thận trọng khi dùng đồng thời Pazonib với các cơ chất uridine diphosphate glucuronosyl transferase 1A1 (UGT1A1) (ví dụ irinotecan) vì Pazonib là chất ức chế UGT1A1 .
Nên tránh dùng nước ép bưởi trong khi điều trị với Pazonib.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Khả năng thực hiện các nhiệm vụ cần có sự phán đoán, các kỹ năng nhận thức hoặc vận động: Không có nghiên cứu nào xác định tác dụng của Pazonib trên việc lái xe hoặc khả năng vận hành máy móc. Tác động có hại trên những hoạt động như thế không thể lường trước được dựa vào tính chất dược lý của Pazonib. Phải lưu ý đến tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và hồ sơ biến cố bất lợi của Pazonib khi xem xét khả năng của bệnh nhân trong việc thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi sự phán đoán, các kỹ năng vận động hoặc nhận thức.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và cho con bú
Thời kỳ mang thai:
- Không có đủ dữ liệu từ việc sử dụng Pazonib ở phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy thuốc có độc tính trên sinh sản . Nguy cơ tiềm tàng trên người chưa được xác định. Không được sử dụng Pazonib trong thời kỳ mang thai trừ khi tình trạng lâm sàng của người bệnh đòi hỏi phải sử dụng Pazonib để điều trị. Nếu Pazonib được sử dụng trong thời kỳ mang thai, hoặc nếu bệnh nhân có thai khi đang sử dụng Pazonib, cần phải giải thích cho bệnh nhân về mối nguy hại tiềm tàng đối với thai.
- Phụ nữ có khả năng mang thai cần được khuyên sử dụng biện pháp ngừa thai thích hợp trong quá trình điều trị và 2 tuần sau khi ngừng điều trị bằng Pazonib và phải tránh có thai trong khi được điều trị với VPazonib .
Khả năng sinh sản
- Pazonib có thể làm suy giảm khả năng sinh sản trên cả nam và nữ. Trong các nghiên cứu về độc tính sinh sản trên giống cái ở loài chuột, đã cho thấy khả năng sinh sản bị suy giảm .
Thời kỳ cho con bú
- Tính an toàn khi sử dụng Pazonib trong thời kỳ cho con bú chưa được xác định. Hiện không biết Pazonib có bài tiết qua sữa mẹ không. Nên ngừng cho con bú bằng sữa mẹ trong khi điều trị với Pazonib.
Bảo quản
- Bảo quản nơi khô thoáng, tránh ánh nắng trực tiếp và nhiệt độ cao
- Để xa tầm tay trẻ em
- Đánh giá SP
- Cảm nhận KH trên Facebook
